Trường nào xét khối A02, và vì sao 35 lượt gây hiểu nhầm
GF Hướng nghiệpĐăng 8 phút đọc
Trả lời ngắn gọn
Khối A02 gồm Toán, Vật lí và Sinh học, ăn hai trong bốn lượt chọn môn. Chúng tôi mở được đề án tuyển sinh 2026 của tám trường, cộng lại 35 lượt ngành có ghi A02, một con số nhỏ so với 251 lượt của A00 vốn cũng tốn hai lượt chọn. Nhưng đánh giá cặp môn qua khối mang tên gần giống nó nhất là đọc sai. Em chọn môn chứ không chọn khối: chọn Vật lí và Sinh học là dùng được 28 khối và với tới 430 trong 500 lượt, chỉ kém cặp Vật lí cộng Hoá học 11 lượt và hơn hẳn cặp Hoá học cộng Sinh học. Sức nặng đến từ A01, C01, B03 và B08 chứ không từ A02. Riêng A02 nghiêng hẳn về sư phạm với 14 trong 35 lượt.
Khối A02 gồm Toán, Vật lí và Sinh học. Chúng tôi mở được đề án tuyển sinh 2026 của tám trường và đọc thẳng bảng tổ hợp trong đó, cộng lại 35 lượt ngành có ghi A02.
Ba mươi lăm là con số nhỏ. A02 ăn hai trong bốn lượt chọn môn, đúng bằng A00, mà A00 có 251 lượt trong cùng tệp. Nhìn thế thì A02 trông như một lựa chọn tồi.
Bài này cho thấy vì sao cách nhìn ấy sai, và sai ở chỗ nào.
Tám trường đã đọc tận đề án
| Trường | Số ngành xét A02 | Nguồn |
|---|---|---|
| Trường Đại học Đồng Tháp | 13 | ngành tuyển sinh |
| Trường Đại học Cần Thơ | 12 | danh mục ngành và chỉ tiêu |
| Trường Đại học Hồng Đức | 3 | thông tin tuyển sinh 2026 |
| Trường Đại học Bạc Liêu | 2 | ngành, tổ hợp và số lượng |
| Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội | 2 | thông báo tuyển sinh 2026 |
| Trường Đại học Phan Thiết | 1 | thông tin tuyển sinh 2026 |
| Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế | 1 | thông tin tuyển sinh 2026 |
| Trường Đại học Văn Lang | 1 | major admission |
Hai trường đầu gánh 25 trong 35 lượt. Sáu trường còn lại mỗi nơi mở một tới ba ngành.
A02 hẹp, nhưng cặp môn của nó thì không
Đây là chỗ đáng đọc nhất, và nó đòi phân biệt hai câu hỏi khác nhau.
Câu thứ nhất: khối A02 rộng bao nhiêu? Trả lời: 35 lượt, hẹp.
Câu thứ hai: em chọn Vật lí và Sinh học thì với tới bao nhiêu? Đây mới là câu đáng hỏi, vì em chọn môn chứ không chọn khối. Và câu trả lời khác hẳn.
Chúng tôi đếm trên cả 500 lượt ngành trong tệp, xem mỗi cách dùng hai lượt chọn thì với tới bao nhiêu:
| Hai lượt chọn dùng cho | Với tới |
|---|---|
| Vật lí + Hoá học | 441 |
| Vật lí + Sinh học | 430 |
| Vật lí + Tin học | 390 |
| Hoá học + Sinh học | 380 |
| Hoá học + Tin học | 356 |
Vật lí cộng Sinh học với tới 430 trong 500 lượt, chỉ kém cặp Vật lí cộng Hoá học 11 lượt, và hơn hẳn cặp Hoá học cộng Sinh học.
Lý do đơn giản: em chọn hai môn ấy thì dùng được 28 khối, không phải một. Sức nặng nằm ở những khối khác:
| Khối em dùng được | Số lượt |
|---|---|
| D01 | 243 |
| A01 | 211 |
| C01 | 123 |
| D14 | 81 |
| C03 | 57 |
| B03 | 51 |
| A02 | 35 |
Môn Vật lí kéo A01 và C01 về cho em; môn Sinh học kéo B03 và B08. A02 chỉ là một khối nhỏ trong số đó.
Nên đừng đánh giá cặp môn qua khối mang tên gần giống nó nhất. Đó là cách đọc làm A02 trông tệ hơn thực tế rất nhiều.
Vậy riêng A02 đóng góp gì
| Lượt ngành | Số lượt |
|---|---|
| Nhận cả A00 lẫn A02 | 24 |
| Chỉ nhận A02, không nhận A00 | 11 |
| Chỉ nhận A00, không nhận A02 | 227 |
Mười một lượt riêng ấy gần như chỉ có một chủ đề: Sư phạm Sinh học, Sinh học, Khoa học cây trồng, Thú y. Cộng thêm hai ngành dệt may ở Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội.
Chia 35 lượt theo lĩnh vực thì cũng ra hình ấy:
| Lĩnh vực | Số lượt |
|---|---|
| Khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên | 14 |
| Khoa học sự sống | 4 |
| Kỹ thuật | 3 |
| Máy tính và công nghệ thông tin | 3 |
| Các lĩnh vực khác | 11 |
Sư phạm chiếm hai phần năm. A02 là khối của người đi dạy khoa học tự nhiên nhiều hơn là khối đại trà.
Vì sao danh sách của chúng tôi ngắn hơn nơi khác
Chúng tôi chỉ ghi tên một trường khi đã mở được bảng tổ hợp của chính trường đó. Mỗi dòng trong bảng đều bấm ra được trang gốc, nên các em kiểm lại được trong ba mươi giây.
Chúng tôi đã cho máy thử cả 169 trường đại học có địa chỉ trong danh mục, và chỉ dựng được bảng cho 16 trường trong số đó. Trượt vì những lý do rất đời thường: 111 trường không có bảng tổ hợp ngay trên trang máy mở được, 19 trường có bảng nhưng cột không khớp để đọc, 10 trường đăng bản quét không có lớp chữ, 4 trường ghi tổ hợp bằng tên môn nên không quy ra mã được.
Chúng tôi đã quét lại một lượt nữa ngày 11/9/2026 và không thêm được trường nào. Chỗ tắc không nằm ở kỹ thuật tải trang mà ở cách trường công bố: nhiều trường lớn dùng mã tuyển sinh riêng thay cho mã ngành bảy số, nên không có gì để ghép vào danh mục.
Với A02 thì bảng chỉ có tám dòng và hai trường đầu đã chiếm 25 trong 35 lượt. Đó là bảng mỏng, đọc nó như hình dạng của cả nước là đọc sai.
Lớp thứ hai: 56 trường, suy ra chứ không đọc thẳng
Danh mục của chúng tôi ghi trường nào đào tạo ngành nào, và ghi ngành nào thường xét A02. Ghép hai thứ lại thì ra 56 trường có ít nhất một ngành mà A02 thường dùng được, cả 56 đều bậc đại học.
| Trường | Ngành thường xét A02 |
|---|---|
| Trường Đại học Cần Thơ | 15 |
| Trường Đại học Sư phạm Hà Nội | 10 |
| Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh | 10 |
| Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội | 8 |
| Đại học Bách khoa Hà Nội | 7 |
| Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh | 7 |
| Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh | 6 |
| Học viện Nông nghiệp Việt Nam | 4 |
Đây là phép suy hai bước, không phải lời trường nói: trường này đào tạo ngành kia, ngành kia thường xét A02. Dùng nó để thu hẹp danh sách cần xem, rồi mở đề án của trường mình nhắm để chốt.
Bảng này gồm hai trường khoa học tự nhiên và hai trường sư phạm trong tám dòng, đúng hướng mà bảng lĩnh vực phía trên chỉ ra.
Ba điều nên nhớ
- 1.Đừng đánh giá cặp môn qua khối mang tên gần giống nó nhất. A02 chỉ có 35 lượt, nhưng em chọn Vật lí và Sinh học thì với tới 430 trong 500 lượt.
- 2.Sức nặng đến từ chỗ khác: Vật lí mở A01 và C01, Sinh học mở B03 và B08. A02 là khối nhỏ trong số 28 khối em dùng được.
- 3.Riêng A02 nghiêng hẳn về sư phạm: 14 trong 35 lượt, và 11 cửa riêng của nó gần như chỉ có Sư phạm Sinh học cùng Sinh học.
Muốn xem A02 đứng đâu trong danh mục ngành thay vì theo trường, bài về khối A02 đo phần ấy. Còn trang tra cứu khối A02 có bảng ngành đầy đủ.
Số trong bài này lấy ở đâu
- •Bảng tám trường, ba nhóm 24, 11, 227 và bảng lĩnh vực: bóc từ trang tuyển sinh của chính trường, đọc trong tháng 8 và 9/2026, bằng
npm run khoi:ratrong mã nguồn của dự án. Đường dẫn nằm ngay trong bảng. - •Con số 35 lượt ngành: cộng số ngành có ghi A02 ở cả tám trường. Một ngành ở hai trường thì đếm hai lượt.
- •Bảng "hai lượt chọn dùng cho" và bảng "khối em dùng được": đếm trên toàn bộ 500 bản ghi có tổ hợp trong tệp quan sát ngày 11/9/2026. Một lượt được tính nếu ngành ấy nhận ít nhất một khối mà em dùng được, nghĩa là mọi môn của khối đó nằm trong bốn môn ai cũng học cộng hai môn em chọn.
- •Con số 28 khối: số khối trong bảng của chúng tôi mà một học sinh chọn Vật lí và Sinh học dùng được, tính cả các khối chỉ gồm môn ai cũng học.
- •Cách chúng tôi biết ngành nào thuộc lĩnh vực nào: đọc mã ngành bảy số, không đọc tên ngành. Hai chữ số sau số 7 đầu tiên là mã lĩnh vực theo danh mục giáo dục đại học. Chúng tôi chọn cách này vì ở vài trường, máy bóc bảng bị lệch nên cột tên ngành đọc ra không đúng, trong khi cột mã và cột tổ hợp vẫn khớp nhau.
- •Vật lí, Hoá học, Sinh học và Tin học nằm trong chín môn học lựa chọn: Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT, sửa đổi bởi Thông tư 13/2022/TT-BGDĐT.
- •Con số 56 trường: ghép danh mục trường với danh mục ngành trong dữ liệu của Gate Future, ngày 11/9/2026. Đây là phép suy hai bước, không phải lời trường công bố. Chúng tôi đếm theo trường chứ không đếm theo tên: một trường được gọi bằng hai cách viết thì vẫn tính một.
- •Bài viết nói về mùa tuyển sinh 2026. Trước khi chốt nguyện vọng, các em mở lại đề án của trường mình nhắm, vì đó mới là văn bản có hiệu lực, còn bài này chỉ là chỗ chỉ đường.