Trường nào xét khối C01, và ở đâu C01 ngang với A01
GF Hướng nghiệpĐăng Cập nhật 10 phút đọc
Trả lời ngắn gọn
Khối C01 gồm Ngữ văn, Toán và Vật lí, chỉ khác A01 đúng một môn và tốn một lượt chọn như nhau là Vật lí. Chúng tôi mở được đề án tuyển sinh 2026 của mười ba trường, cộng lại 123 lượt ngành có ghi C01. Trường Đại học Giao thông vận tải xét C01 cho 32 ngành, đúng bằng số ngành xét A01 — ở đó điểm Ngữ văn và điểm Ngoại ngữ có giá ngang nhau. Nhưng Trường Đại học Cần Thơ là 6 so với 54 và Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội là 1 so với 25, nên cùng một khối mà hai trường mở hai cỡ cửa khác hẳn. Dù có môn Ngữ văn, C01 không dẫn về phía văn chương: đọc mã ngành thì phần lớn 123 lượt thuộc kinh doanh, kỹ thuật, xây dựng và công nghệ thông tin.
Khối C01 gồm Ngữ văn, Toán và Vật lí. Chúng tôi mở được đề án tuyển sinh 2026 của mười ba trường và đọc thẳng bảng tổ hợp trong đó — cộng lại 123 lượt ngành có ghi C01.
Con số đáng chú ý nhất nằm ở Trường Đại học Giao thông vận tải: trường này xét C01 cho 32 ngành, đúng bằng số ngành xét A01. Với em học Vật lí mà chắc điểm Ngữ văn hơn điểm Ngoại ngữ, đó là chuyện lớn.
Mười ba trường đã đọc tận đề án
| Trường | Số ngành xét C01 | Nguồn |
|---|---|---|
| Trường Đại học Giao thông vận tải | 32 | thông tin tuyển sinh 2026 |
| Trường Đại học Hồng Đức | 20 | thông tin tuyển sinh 2026 |
| Trường Đại học Vinh | 16 | thông tin tuyển sinh 2026 |
| Trường Đại học Đồng Tháp | 15 | ngành tuyển sinh |
| Trường Đại học Bạc Liêu | 11 | ngành, tổ hợp và số lượng |
| Trường Đại học Văn Lang | 10 | major admission |
| Trường Đại học Cần Thơ | 6 | danh mục ngành và chỉ tiêu |
| Trường Đại học Phan Thiết | 4 | thông tin tuyển sinh 2026 |
| Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế | 3 | thông tin tuyển sinh 2026 |
| Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế | 2 | thông tin tuyển sinh 2026 |
| Trường Đại học Đồng Nai | 2 | thông báo tuyển sinh đợt 2 |
| Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội | 1 | thông báo tuyển sinh 2026 |
| Trường Đại học Hùng Vương | 1 | trang tuyển sinh |
C01 và A01 khác nhau đúng một môn
A01 gồm Toán, Vật lí và Ngoại ngữ 1. C01 gồm Toán, Vật lí và Ngữ văn. Hai khối chỉ khác nhau ở môn thứ ba.
Điều đó có nghĩa là hai khối này tốn của em đúng một lượt chọn như nhau — đều là Vật lí. Ngữ văn và Ngoại ngữ 1 đều nằm trong nhóm môn mọi học sinh đều học, nên không khối nào bắt em chọn thêm gì.
Cái khác duy nhất là trường sẽ cộng điểm Ngữ văn của em hay điểm Ngoại ngữ của em. Với em học đều, chuyện đó không quan trọng. Với em chắc Văn mà đuối tiếng Anh, nó quyết định cả một nguyện vọng.
Trường nào mở cả hai cửa như nhau
| Trường | C01 | A01 |
|---|---|---|
| Giao thông vận tải | 32 | 32 |
| Hồng Đức | 20 | 5 |
| Vinh | 16 | 13 |
| Bạc Liêu | 11 | 5 |
| Nông Lâm, Đại học Huế | 3 | 2 |
| Sư phạm, Đại học Huế | 2 | 5 |
| Đồng Tháp | 15 | 22 |
| Văn Lang | 10 | 34 |
| Phan Thiết | 4 | 6 |
| Đồng Nai | 2 | 4 |
| Hùng Vương | 1 | 3 |
| Cần Thơ | 6 | 54 |
| Công nghiệp Hà Nội | 1 | 25 |

Năm trường đầu bảng đối xử với hai khối gần như nhau. Trường Đại học Giao thông vận tải đi xa nhất: 32 ngành xét C01, cũng 32 ngành xét A01. Ở đó, điểm Ngữ văn và điểm Ngoại ngữ có giá ngang nhau.
Chín trường còn lại thì không. Trường Đại học Cần Thơ xét A01 cho 54 ngành nhưng C01 chỉ 6; Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội là 25 so với 1. Ở những trường ấy, chọn Vật lí thôi chưa đủ — vẫn phải có điểm Ngoại ngữ mới đi được phần lớn ngành.
Nên lời khuyên thật là: đừng hỏi "C01 học được ngành gì", hãy hỏi "trường tôi nhắm có xét C01 không". Cùng một khối, cùng một năm, mà hai trường mở hai cỡ cửa khác hẳn nhau.
C01 dùng cho ngành gì
Chia 123 lượt theo lĩnh vực đào tạo:
| Lĩnh vực | Số lượt |
|---|---|
| Kinh doanh và quản lý | 26 |
| Kỹ thuật | 19 |
| Khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên | 13 |
| Kiến trúc và xây dựng | 12 |
| Công nghệ kỹ thuật | 12 |
| Máy tính và công nghệ thông tin | 10 |
| Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản | 7 |
| Các lĩnh vực khác | 24 |
Đây là chỗ dễ hiểu nhầm nhất về C01. Khối này có môn Ngữ văn, nên nhiều em tưởng nó dẫn về phía xã hội nhân văn. Đọc đề án thì ngược lại: chỉ 4 lượt thuộc Khoa học xã hội và hành vi và 1 lượt thuộc Nhân văn. Phần lớn C01 đi về kinh doanh, kỹ thuật, xây dựng và công nghệ thông tin.
Ở Trường Đại học Giao thông vận tải, 32 ngành xét C01 gồm cả Logistics và quản lý chuỗi cung ứng, Kế toán, Trí tuệ nhân tạo, Kỹ thuật robot, Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông. Ngữ văn ở đây không phải để học văn — nó là môn thứ ba thay chỗ tiếng Anh.
Vì sao danh sách của chúng tôi ngắn hơn nơi khác
Chúng tôi chỉ ghi tên một trường khi đã mở được bảng tổ hợp của chính trường đó. Mỗi dòng trong bảng đều bấm ra được trang gốc, nên các em kiểm lại được trong ba mươi giây.
Chúng tôi đã cho máy thử cả 169 trường đại học có địa chỉ trong danh mục, và chỉ dựng được bảng cho 16 trường trong số đó. Trượt vì những lý do rất đời thường: 111 trường không có bảng tổ hợp ngay trên trang máy mở được, 19 trường có bảng nhưng cột không khớp để đọc, 10 trường đăng bản quét không có lớp chữ, 4 trường ghi tổ hợp bằng tên môn nên không quy ra mã được.
Nên bảng mười ba dòng ở đầu bài không phải danh sách trường xét C01 của cả nước. Nó là danh sách chúng tôi kiểm được tới nơi.
Lớp thứ hai: 87 trường, suy ra chứ không đọc thẳng
Danh mục của chúng tôi ghi trường nào đào tạo ngành nào, và ghi ngành nào thường xét C01. Ghép hai thứ lại thì ra 87 trường có ít nhất một ngành mà C01 thường dùng được, cả 87 đều bậc đại học.
| Trường | Ngành thường xét C01 |
|---|---|
| Trường Đại học Cần Thơ | 23 |
| Đại học Kinh tế Quốc dân | 17 |
| Đại học Bách khoa Hà Nội | 16 |
| Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh | 14 |
| Trường Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng | 13 |
| Đại học Công nghiệp Hà Nội | 11 |
| Trường Đại học Giao thông vận tải | 11 |
| Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh | 11 |
Đây là phép suy hai bước, không phải lời trường nói: trường này đào tạo ngành kia, ngành kia thường xét C01. Dùng nó để thu hẹp danh sách cần xem, rồi mở đề án của trường mình nhắm để chốt.
Đối chiếu hai lớp thì thấy ngay giới hạn của phép suy: lớp thứ hai đoán Trường Đại học Cần Thơ có 23 ngành hợp với C01, còn đề án thật của trường ghi 6.
Ba điều nên nhớ
- 1.C01 và A01 tốn đúng một lượt chọn như nhau. Khác nhau ở chỗ trường cộng điểm Ngữ văn hay điểm Ngoại ngữ của em.
- 2.Cùng một khối, hai trường mở hai cỡ cửa khác hẳn. Giao thông vận tải xét C01 cho 32 ngành; Công nghiệp Hà Nội xét cho 1.
- 3.C01 có Ngữ văn nhưng không dẫn về phía văn chương. Trong 123 lượt đọc được, phần lớn là kinh doanh, kỹ thuật, xây dựng và công nghệ thông tin.
Muốn xem C01 gồm môn gì và đứng ở đâu giữa các khối có Vật lí, bài về khối C01 đo phần ấy bằng danh mục ngành. Còn trang tra cứu khối C01 có bảng ngành đầy đủ.
Số trong bài này lấy ở đâu
- •Bảng mười một trường, bảng lĩnh vực và bảng so C01 với A01: bóc từ trang tuyển sinh của chính trường, đọc trong tháng 8 và 9/2026, bằng
npm run khoi:ratrong mã nguồn của dự án. Đường dẫn nằm ngay trong bảng. - •Con số 101 lượt ngành: cộng số ngành có ghi C01 ở cả mười ba trường. Một ngành ở hai trường thì đếm hai lượt.
- •Cách chúng tôi biết ngành nào thuộc lĩnh vực nào: đọc mã ngành bảy số, không đọc tên ngành. Hai chữ số sau số 7 đầu tiên là mã lĩnh vực theo danh mục giáo dục đại học. Chúng tôi chọn cách này vì ở vài trường, máy bóc bảng bị lệch nên cột tên ngành đọc ra không đúng, trong khi cột mã và cột tổ hợp vẫn khớp nhau.
- •Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ 1 và Lịch sử là môn mọi học sinh đều học: Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT, sửa đổi bởi Thông tư 13/2022/TT-BGDĐT. Vật lí nằm trong chín môn học lựa chọn.
- •Con số 87 trường: ghép danh mục trường với danh mục ngành trong dữ liệu của Gate Future, ngày 5/9/2026. Đây là phép suy hai bước, không phải lời trường công bố. Chúng tôi đếm theo trường chứ không đếm theo tên: một trường được gọi bằng hai cách viết thì vẫn tính một. Ngoài 87 trường này còn 17 tên trường nữa xuất hiện trong dữ liệu ngành mà chúng tôi chưa khớp được vào danh mục trường, nên chưa đưa vào con số.
- •Bài viết nói về mùa tuyển sinh 2026. Trước khi chốt nguyện vọng, các em mở lại đề án của trường mình nhắm — đó mới là văn bản có hiệu lực, còn bài này chỉ là chỗ chỉ đường.