Trường nào mở rộng cửa, trường nào mở đúng hai
GF Hướng nghiệpĐăng 9 phút đọc
Trả lời ngắn gọn
Cùng đọc một tệp đề án tuyển sinh 2026 của mười tám trường, lần này chúng tôi đếm từ phía trường: mỗi trường xét trung bình mấy tổ hợp cho một ngành. Trường Đại học Vinh xét đúng hai tổ hợp cho cả 70 ngành, không ngành nào ba, không ngành nào một. Trường Đại học Bạc Liêu trung bình 7,9, với tám trong mười bốn ngành mở tới chín tổ hợp. Vinh không phải trường duy nhất có quy tắc như thế: Hùng Vương giữ đúng bốn tổ hợp cho cả 27 ngành. Chênh lệch ấy quyết định em có nộp được hay không, kể cả khi sức học không đổi: cùng ngành Sư phạm Toán học, em học Toán với Sinh học thì Bạc Liêu có cửa còn Vinh thì không. Nhưng bảng này không xếp hạng trường, nó chỉ nói trường chặt hay rộng về nền môn học của thí sinh.
Trường Đại học Vinh có 70 ngành trong tệp của chúng tôi. Cả 70 ngành đều xét đúng hai tổ hợp. Không ngành nào ba, không ngành nào một.
Trường Đại học Bạc Liêu có 14 ngành. Tám trong số đó xét chín tổ hợp.
Hai con số ấy nói lên một điều mà bảng tổ hợp không ghi thành chữ: mỗi trường có một chính sách riêng về việc mở bao nhiêu cửa cho một ngành, và chính sách ấy chênh nhau rất xa.
Trường nào mở mấy cửa
Bảng dưới chỉ tính mười một trường có từ 14 ngành trở lên trong tệp, vì trường ít ngành quá thì trung bình không nói được gì. Bảy trường còn lại nằm ngoài bảng, trong đó có hai trường trung bình còn cao hơn đầu bảng.
| Trường | Số ngành | Tổ hợp trung bình mỗi ngành | Số công thức khác nhau |
|---|---|---|---|
| Trường Đại học Bạc Liêu | 14 | 7,9 | 9 |
| Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng | 16 | 6,9 | 8 |
| Trường Đại học Đồng Tháp | 58 | 5,7 | 38 |
| Trường Đại học Hồng Đức | 39 | 5,6 | 24 |
| Trường Đại học Giao thông vận tải | 34 | 4,5 | 10 |
| Trường Đại học Cần Thơ | 97 | 4,1 | 45 |
| Trường Đại học Hùng Vương | 27 | 4,0 | 16 |
| Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế | 22 | 3,8 | 16 |
| Trường Đại học Văn Lang | 58 | 3,7 | 26 |
| Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội | 42 | 3,3 | 10 |
| Trường Đại học Vinh | 70 | 2,0 | 26 |

Trường ở đầu bảng mở gần gấp bốn lần trường ở cuối bảng.
Có trường không có trung bình, mà có quy tắc
Trung bình thường che mất chuyện gì đang xảy ra. Ở vài trường thì không có gì để che.
| Trường | Số tổ hợp trên từng ngành |
|---|---|
| Trường Đại học Vinh | 70 ngành, tất cả đều 2 tổ hợp |
| Trường Đại học Hùng Vương | 27 ngành, tất cả đều 4 tổ hợp |
| Trường Đại học Cần Thơ | 4 tổ hợp: 89 ngành · 5 tổ hợp: 6 · 6 tổ hợp: 2 |
| Trường Đại học Bạc Liêu | 9 tổ hợp: 8 ngành · 7 tổ hợp: 2 · 5 tổ hợp: 2 · 8 tổ hợp: 1 · 6 tổ hợp: 1 |
| Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội | 4 tổ hợp: 21 ngành · 3 tổ hợp: 13 · 2 tổ hợp: 6 · 1 tổ hợp: 2 |
Vinh không phải trường duy nhất làm thế, chỉ là trường làm ở con số nhỏ nhất. Hùng Vương giữ đúng bốn tổ hợp cho cả 27 ngành, Cần Thơ giữ bốn cho 89 trong 97 ngành. Ba trường ấy đã chốt một con số rồi áp cho toàn bộ danh mục.
Bạc Liêu và Công nghiệp Hà Nội thì ngược lại, mỗi ngành một cỡ.
Cùng một ngành, hai trường mở hai cỡ cửa
Có mười một ngành xuất hiện ở cả Vinh lẫn Bạc Liêu. Đặt cạnh nhau thì thấy ngay:
| Ngành | Trường Đại học Vinh | Trường Đại học Bạc Liêu |
|---|---|---|
| Sư phạm Toán học | A00, A01 | A00, A01, A02, B00, C01, C02, D01 |
| Ngôn ngữ Anh | D01, D14 | D01, D11, D12, D13, D14, D15, X78, X79 |
| Quản trị kinh doanh | C01, D01 | A00, A01, B03, C01, C02, C03, C04, D01, X01 |
| Sư phạm Sinh học | B00, B03 | A02, B00, B03, B08, C08 |
| Chăn nuôi | B03, C03 | B00, B03, B08, C01, C02, C03, C04, D01, X04 |
Với ngành Sư phạm Toán học, em học Toán và Vật lí thì vào được cả hai trường. Nhưng em học Toán và Sinh học thì Bạc Liêu nhận qua A02, còn Vinh thì không có cửa nào.
Chỗ khác nhau ấy không nằm ở sức học của em. Nó nằm ở chỗ hai trường chọn khác nhau.
Bảng này không nói trường nào tốt hơn
Cần nói thẳng, vì bảng xếp theo thứ tự nào cũng dễ bị đọc thành xếp hạng chất lượng.
Mở nhiều tổ hợp không có nghĩa là trường dễ hơn hay tốt hơn. Điểm chuẩn, chương trình đào tạo và chất lượng nằm ở chỗ khác hẳn, và bài này không đo chúng.
Con số trong bảng chỉ nói một chuyện: trường ấy chặt hay rộng về việc thí sinh đã học môn nào. Một trường mở hai tổ hợp là trường muốn thí sinh có đúng nền kiến thức ấy. Một trường mở chín tổ hợp là trường chấp nhận nhiều nền khác nhau cho cùng một ngành. Cả hai đều là lựa chọn hợp lý của trường, và quy định cho phép cả hai.
Nghĩa là gì cho em
Ba điều dùng được ngay:
Một. Nếu bộ môn em chọn hơi lệch so với hướng ngành, trường mở nhiều tổ hợp là chỗ đáng xem trước. Không phải vì dễ hơn, mà vì khả năng có một tổ hợp khớp với em cao hơn.
Hai. Đừng suy từ trường này sang trường khác. Thấy Bạc Liêu xét Quản trị kinh doanh bằng chín tổ hợp thì đừng kết luận ngành ấy nói chung rộng cửa; Vinh xét đúng hai.
Ba. Số công thức khác nhau cho biết em phải tra mấy lần. Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội xét 42 ngành bằng đúng 10 công thức, nên xem vài ngành là đoán được phần còn lại. Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế thì 22 ngành dùng 16 công thức, gần như mỗi ngành một kiểu, nên ngành nào cũng phải tra riêng.
Phép đếm này đếm trên cái gì
Năm trăm lượt ngành đến từ mười tám trường mà chúng tôi mở được đề án và đọc thẳng bảng tổ hợp. Bảng trong bài chỉ lấy mười một trường có từ 14 ngành trở lên.
Đây là chỗ phải cẩn thận hơn các bài khác: con số trung bình phụ thuộc vào việc chúng tôi bóc được bao nhiêu ngành của trường ấy. Nếu máy đọc sót một phần bảng của trường nào, trung bình của trường đó có thể lệch.
Bảy trường bị ngưỡng 14 ngành loại ra không phải là bảy trường mở ít cửa. Ngược lại: Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế và Trường Đại học Phan Thiết đều ở mức 8,0 tổ hợp một ngành, cao hơn cả đầu bảng. Chúng tôi để hai trường ấy ra ngoài vì mỗi trường chỉ bóc được 7 và 6 ngành, quá ít để trung bình đứng vững.
Trong mười tám trường cũng không có trường bách khoa, y dược chuyên ngành, khoa học xã hội nhân văn hay nghệ thuật nào.
Ba điều nên nhớ
- 1.Mỗi trường có một chính sách riêng về số cửa. Trường Đại học Vinh xét đúng hai tổ hợp cho cả 70 ngành; Trường Đại học Bạc Liêu xét chín tổ hợp cho tám trong mười bốn ngành.
- 2.Chênh lệch ấy quyết định em có nộp được hay không, kể cả khi sức học không đổi. Cùng ngành Sư phạm Toán học, em học Toán với Sinh học thì Bạc Liêu có cửa còn Vinh thì không.
- 3.Bảng này không xếp hạng trường. Nó chỉ nói trường chặt hay rộng về nền môn học của thí sinh.
Muốn xem cùng một ngành thì các trường xét khác nhau thế nào, bài cùng một ngành mỗi trường xét một kiểu tính phần ấy từ phía ngành. Còn trang tra cứu khối thi cho biết từng khối gồm những môn nào.
Số trong bài này lấy ở đâu
- •Tất cả các con số và bảng trong bài: đếm trên 500 bản ghi có tổ hợp trong tệp quan sát của dự án, ngày 11/9/2026. Tệp gồm mười tám trường, bóc từ trang tuyển sinh của chính trường trong tháng 8 và 9/2026 bằng
npm run khoi:ratrong mã nguồn. - •Cách tính trung bình: với mỗi ngành của một trường, đếm số tổ hợp khác nhau trường ấy ghi cho ngành đó, rồi lấy trung bình trên mọi ngành của trường. Ngành nào trường ghi trùng một tổ hợp hai lần thì vẫn tính một.
- •"Số công thức khác nhau": gom các ngành có cùng một bộ tổ hợp làm một, rồi đếm số bộ phân biệt. Trường 42 ngành mà 10 công thức nghĩa là nhiều ngành dùng chung một bộ.
- •Ngưỡng 14 ngành: bảng chỉ lấy trường có từ 14 ngành trở lên trong tệp. Bảy trường còn lại có từ 1 tới 7 ngành trong tệp.
- •Cách gom ngành giữa hai trường: ghép theo mã ngành bảy số, không ghép theo tên.
- •Quy định về mã tổ hợp: Công văn 2304/BGDĐT-GDĐH ngày 4/5/2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, mục 2. Văn bản quy định danh mục mã, còn việc chọn mã nào cho ngành nào thuộc về từng trường.
- •Bài viết nói về mùa tuyển sinh 2026. Trước khi chốt nguyện vọng, các em mở lại đề án của trường mình nhắm, vì đó mới là văn bản có hiệu lực, còn bài này chỉ là chỗ chỉ đường.