Thị trường lao động đang cần những ai
Mỗi con số dưới đây đều ghi rõ của quý nào và ai công bố. Đọc hết trang các em sẽ biết thị trường lao động Việt Nam đang thế nào — nhưng thứ dùng được lâu hơn là năm câu hỏi ở gần cuối, để tự kiểm bất kỳ con số nào gặp về sau.
Bao nhiêu người đang đi làm
Ba con số đầu tiên trả lời câu hỏi thị trường lao động rộng cỡ nào.
53,8 triệu người
Lực lượng lao động
Người từ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc đang tìm việc. Người đang đi học, nội trợ toàn thời gian, người không tìm việc thì không nằm trong số này.
quý II/2026 · Cục Thống kê (Bộ Tài chính)
68,4%
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động
Cứ 100 người từ 15 tuổi trở lên thì 68,4 người đang đi làm hoặc đang tìm việc.
quý II/2026 · Cục Thống kê (Bộ Tài chính)
52,7 triệu người
Người có việc làm
Tăng 170,2 nghìn người so với quý trước và 688,3 nghìn người so với cùng kỳ năm 2025. Tính cả người làm thời vụ, làm bán thời gian và lao động tự làm — không chỉ người có hợp đồng.
quý II/2026 · Cục Thống kê (Bộ Tài chính)
Ai đang khó
Bốn cách đếm khác nhau cho cùng một chuyện: chưa có việc, hoặc có mà chưa đủ.
2,23%
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động
Chỉ đếm người KHÔNG có việc và ĐANG tìm việc. Người chán nản thôi không tìm nữa thì rơi ra khỏi cả tử số lẫn mẫu số, nên tỷ lệ này luôn nhỏ hơn cảm giác ngoài đời.
quý II/2026 · Cục Thống kê (Bộ Tài chính)
8,67%
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên 15–24 tuổi
Cùng một bản báo cáo, cùng một quý, nhưng gấp gần bốn lần mức chung. Đây là con số gần với lứa các em nhất.
quý II/2026 · Cục Thống kê (Bộ Tài chính)
10,0%
Thanh niên không có việc làm và không đi học, không đào tạo
Cứ 10 thanh niên thì 1 người vừa không đi làm vừa không đi học. Thống kê gọi nhóm này là NEET.
quý II/2026 · Cục Thống kê (Bộ Tài chính)
1,62%
Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động
Có việc, nhưng làm ít giờ hơn mức mình muốn và sẵn sàng làm thêm. Thất nghiệp không phải hình thái khó khăn duy nhất.
quý II/2026 · Cục Thống kê (Bộ Tài chính)
Đi làm bằng gì, và có lưới đỡ không
Hai con số này ít khi được nhắc tới khi người ta bàn chuyện chọn ngành.
29,8%
Lao động đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ
Gần 7 trong 10 người đang đi làm không có bằng nghề, bằng trung cấp, cao đẳng hay đại học nào. Con số này đọc được theo hai chiều — xem mục dưới.
quý II/2026 · Cục Thống kê (Bộ Tài chính)
61,7%
Tỷ lệ lao động phi chính thức
Việc không có hợp đồng lao động, hoặc không được đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Vẫn là việc thật, thu nhập thật, nhưng không có lưới đỡ khi ốm đau hay mất việc.
quý II/2026 · Cục Thống kê (Bộ Tài chính)
Thu nhập
Hai mức bình quân của hai nhóm người khác nhau — đọc kỹ nhãn trước khi so.
9,0 triệu đồng/tháng
Thu nhập bình quân của người lao động
Bình quân của mọi người đang có việc, gồm cả người tự làm và lao động gia đình. Bình quân không phải mức phổ biến: một số ít người thu nhập rất cao kéo con số này lên.
quý II/2026 · Cục Thống kê (Bộ Tài chính)
10,0 triệu đồng/tháng
Thu nhập bình quân của lao động làm công hưởng lương
Chỉ tính người đi làm thuê nhận lương, tăng 679 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước. Khác định nghĩa với dòng trên, nên hai số này không dùng để trừ cho nhau.
6 tháng đầu năm 2026 · Cục Thống kê (Bộ Tài chính)
Người đi làm đang làm ở đâu
Thống kê chia toàn bộ nền kinh tế thành ba khu vực. Tỷ lệ dưới đây là phần trăm số người có việc làm, không phải phần trăm giá trị làm ra.
Dịch vụ
40,9%Bán hàng, du lịch, khách sạn, vận tải, y tế, giáo dục, ngân hàng, công nghệ thông tin.
Công nghiệp và xây dựng
33,9%Nhà máy, xưởng may, cơ khí, điện tử, chế biến thực phẩm, công trình xây dựng.
17,8 triệu người, tăng 546,1 nghìn người so với cùng kỳ năm trước — khu vực tăng mạnh nhất trong quý.
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
25,2%Trồng trọt, chăn nuôi, trồng rừng, đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản.
Thống kê việc đã xảy ra · Số liệu quý II/2026 · Cục Thống kê (Bộ Tài chính), công bố 3/7/2026
Xu thế ngành nghề
Các mục trên là ảnh chụp một thời điểm. Mục này xếp nhiều thời điểm cạnh nhau để thấy cái gì đang chuyển động. Ở đây không có danh sách ngành nên học — thứ duy nhất trang dám nói là những con số đã đổi thế nào và những văn bản nào đang đẩy thị trường đi.
Ba chuỗi số đã đổi
Người rời ruộng đồng, đi vào dịch vụ
Tỷ trọng lao động của ba khu vực kinh tế qua ba lần công bố gần nhất.
| Khu vực | Năm 2024 số cả năm | Năm 2025 số cả năm | Quý II/2026 số một quý | Đổi |
|---|---|---|---|---|
| Dịch vụ | 40,1% | 40,8% | 40,9% | +0,8 điểm |
| Công nghiệp và xây dựng | 33,4% | 33,5% | 33,9% | +0,5 điểm |
| Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản | 26,5% | 25,7% | 25,2% | -1,3 điểm |
Nông nghiệp mất 1,3 điểm phần trăm trong khoảng hai năm, phần đó chia cho dịch vụ và công nghiệp. Đây là xu thế đã chạy suốt mấy chục năm, không phải chuyện mới của 2026.
Không có nghĩa là: Không có nghĩa là nghề nông sắp hết người làm. Năm 2025 vẫn còn 13,5 triệu người sống bằng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản — đông hơn toàn bộ dân số nhiều tỉnh cộng lại. Xu thế nói về tỷ trọng đang đổi, không nói khu vực nào sắp biến mất.
Nguồn từng mốc: Năm 2024 Cục Thống kê (Bộ Tài chính) · Năm 2025 Cục Thống kê (Bộ Tài chính) · Quý II/2026 Cục Thống kê (Bộ Tài chính)
Bằng cấp nhích lên, mỗi năm chưa tới một điểm
Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ.
| Chỉ tiêu | Năm 2024 số cả năm | Năm 2025 số cả năm | Quý II/2026 số một quý | Đổi |
|---|---|---|---|---|
| Có bằng cấp, chứng chỉ | 28,3% | 29,2% | 29,8% | +1,5 điểm |
Đi lên đều, nhưng chậm: khoảng 0,8 điểm mỗi năm. Với tốc độ này thì phải hơn hai mươi năm nữa mới có một nửa lực lượng lao động cầm bằng.
Không có nghĩa là: Không có nghĩa là bằng cấp đang mất giá, cũng không có nghĩa là cứ có bằng thì hơn người. Nó chỉ nói: người có bằng vẫn đang là thiểu số trong lực lượng lao động Việt Nam.
Nguồn từng mốc: Năm 2024 Cục Thống kê (Bộ Tài chính) · Năm 2025 Cục Thống kê (Bộ Tài chính) · Quý II/2026 Cục Thống kê (Bộ Tài chính)
Việc có hợp đồng nhiều lên, nhưng chậm
Tỷ lệ lao động phi chính thức — việc không hợp đồng hoặc không được đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.
| Chỉ tiêu | Năm 2024 số cả năm | Quý II/2026 số một quý | Đổi |
|---|---|---|---|
| Lao động phi chính thức | 64,6% | 61,7% | -2,9 điểm |
Giảm gần 3 điểm phần trăm trong khoảng một năm rưỡi. Đây là xu thế ít được nhắc tới nhất nhưng đụng tới đời sống nhiều nhất: nó là chuyện có hay không có lưới đỡ khi ốm đau, thai sản, mất việc.
Không có nghĩa là: Không có nghĩa là 6 trên 10 người đang làm việc tạm bợ. Phi chính thức gồm cả người tự mở quán, chạy xe, làm ruộng nhà mình — việc thật, thu nhập thật, chỉ là nằm ngoài hệ thống hợp đồng và bảo hiểm.
Nguồn từng mốc: Năm 2024 Cục Thống kê (Bộ Tài chính) · Quý II/2026 Cục Thống kê (Bộ Tài chính)
Hai lực đẩy có văn bản
Chưa thành chuỗi số trên nền tảng, nhưng dẫn được tới quyết định có số hiệu hoặc số liệu điều tra dân số — khác hẳn loại “xu hướng” chỉ có người nói mà không có chỗ tra.
Nhà nước đang đặt cược vào công nghệ
Chương trình phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đặt mục tiêu đào tạo ít nhất 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên đến năm 2030, kèm 4 phòng thí nghiệm dùng chung cấp quốc gia và phòng thí nghiệm tại khoảng 18 trường đại học công lập ở cả ba miền.
Quyết định 1017/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình "Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến năm 2050" · Thủ tướng Chính phủ, 21/9/2024
Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, trong đó nhân lực chất lượng cao là một trong những điểm nghẽn phải gỡ.
Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia · Bộ Chính trị, 22/12/2024
Có nghĩa là: Trong vài năm tới sẽ có thêm chỗ học: ngành mở mới, phòng thí nghiệm được đầu tư, học bổng cho một số chương trình. Đây là điều chắc chắn hơn cả, vì nó đã nằm trong văn bản có số hiệu.
Không có nghĩa là: 50.000 là chỉ tiêu ĐÀO TẠO, không phải 50.000 chỗ làm đang trống chờ người. Hai con số khác nhau, và không văn bản nào hứa rằng ai học xong cũng có việc đúng ngành. Chỉ tiêu đào tạo lớn thậm chí còn nghĩa là sẽ đông người cùng học một thứ.
Dân số già đi, và việc chăm sóc phải có người làm
Việt Nam bắt đầu quá trình già hóa dân số từ năm 2011. Năm 2024 có 14,2 triệu người từ 60 tuổi trở lên; nhóm từ 65 tuổi trở lên chiếm 9,3% dân số. Dự báo đến năm 2030 số người từ 60 tuổi trở lên xấp xỉ 18 triệu.
Xu hướng già hóa dân số nhanh ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp — số liệu từ Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024 · Cục Thống kê (Bộ Tài chính), 15/1/2025
Tuổi thọ trung bình năm 2025 đạt 74,7 tuổi (nam 72,3; nữ 77,3), trên tổng dân số trung bình 102,3 triệu người.
Thông cáo báo chí về tình hình dân số, lao động, việc làm quý IV và năm 2025 · Cục Thống kê (Bộ Tài chính), 6/1/2026
Có nghĩa là: Thêm gần 4 triệu người cao tuổi trong khoảng sáu năm. Người già cần khám chữa bệnh, cần chăm sóc tại nhà, cần thuốc, cần đi lại — và những việc đó phải có người làm, ở mọi tỉnh chứ không riêng thành phố lớn.
Không có nghĩa là: Không có nghĩa là cứ học y, điều dưỡng là chắc việc. Nhu cầu chăm sóc tăng không tự động thành chỗ làm được trả lương tử tế — còn phụ thuộc người già có tiền chi trả không, bảo hiểm chi trả tới đâu, cơ sở dưỡng lão có được mở không. Nhu cầu và chỗ làm là hai chuyện.
Năm cái bẫy khi đọc một xu thế
Năm câu hỏi ở phần sau dùng để kiểm một con số. Năm cái bẫy này dùng để kiểm một câu chuyện — thứ mà xu thế thật ra là.
Nhầm chỉ tiêu chính sách với chỗ làm đang trống
"Cần 50.000 nhân lực bán dẫn" là số người nhà nước muốn ĐÀO TẠO tới năm 2030. Nó nằm trong một quyết định, không nằm trong tin tuyển dụng nào.
Tưởng xu thế chạy nhanh như lúc người ta kể
Tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm 1,3 điểm trong hai năm. Nghe "đang giảm mạnh" thì tưởng vài năm nữa hết, thật ra vẫn còn 13,5 triệu người.
Quên rằng em ra trường sau đây nhiều năm
Học sinh vào đại học năm 2026 thì đi làm khoảng năm 2030. Xu thế nói về hôm nay; chọn nghề là đặt cược vào lúc đó. Nên xem lực đẩy nào đủ chậm và đủ chắc để còn nguyên sau bốn năm — dân số già đi là loại đó, một ứng dụng đang thịnh thì không.
So một con số của quý với một con số của cả năm
Số quý chịu ảnh hưởng mùa vụ, số cả năm đã bình quân hoá. Bản mới nhất luôn là số quý, còn bản để so thường là số năm — đặt cạnh nhau thì phải nói rõ đang so gì với gì.
Đem xu thế cả nước áp vào một người
Xu thế không biết tỉnh em có nhà máy hay không, nhà em lo được mấy năm học phí, và em học được cái gì. Nó thu hẹp danh sách để em đi hỏi tiếp, chứ không chọn hộ.
Nhu cầu sử dụng lao động — phía người tuyển
Các con số ở trên đếm việc đã xảy ra. Phần này là dự báo nhu cầu sắp tới, và chỉ của một địa bàn. Nền tảng chưa có số dự báo cho toàn bộ 34 tỉnh thành — muốn biết tỉnh mình thì phải tự tra, hướng dẫn ở cuối trang.
TP.HCM (gồm Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu cũ), cả năm 2026
313.681
chỗ làm việc cần tuyển
191.790
người tìm việc dự kiến
| Địa bàn | Chỗ làm việc |
|---|---|
| TP.HCM (cũ) | 136.340 |
| Bình Dương (cũ) | 105.080 |
| Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ) | 72.261 |
Năm nhóm cần nhiều người nhất
- 39,82%Lao động phổ thông
- 23,23%Sản xuất, kỹ thuật
- 8,99%Thương mại, dịch vụ, logistics
- 6,34%Tài chính, kế toán, bất động sản
- 4,83%Hành chính, pháp luật, quản lý
Nhóm đứng đầu là lao động phổ thông — việc không đòi bằng cấp. Con số 313.681 vì thế không có nghĩa là nghề nào cũng đang thiếu người.
Dự báo · Số liệu cả năm 2026 · Trung tâm Dịch vụ việc làm TP.HCM, công bố 3/1/2026 · báo chí dẫn lại
Năm nhóm nghề được tuyển nhiều nhất cả nước
- Nhà chuyên môn về quản trị
- Bán hàng, tiếp thị và quan hệ công chúng
- Kỹ thuật viên khoa học và kỹ thuật
- Nhân viên dịch vụ khách hàng
- Nhân viên làm việc liên quan đến số liệu
Thống kê việc đã xảy ra · Số liệu quý IV/2025 · Bộ Nội vụ, công bố 23/2/2026 · báo chí dẫn lại
Bốn cặp số phải đọc cùng nhau
Một con số đứng một mình gần như không nói được gì. Đặt cạnh đúng con số kia thì mới bật ra ý nghĩa — đây là việc mà “phân tích thông tin thị trường lao động” thật ra đang nói tới.
Thất nghiệp chung và thất nghiệp thanh niên
2,23% so với 8,67%
Gấp gần bốn lần. Quãng chuyển từ ghế nhà trường sang chỗ làm đầu tiên là quãng khó nhất của cả đời đi làm — khó với hầu hết mọi người, không phải riêng ai kém.
Bằng cấp và việc làm phi chính thức
29,8% so với 61,7%
29,8% người đi làm có bằng cấp, chứng chỉ; 61,7% làm việc không hợp đồng, không bảo hiểm xã hội bắt buộc. Hai con số nói cùng một điều: phần đông đang đi làm bằng tay nghề học được tại chỗ, và đổi lại là không có lưới đỡ.
Hai mức thu nhập bình quân
9,0 triệu đồng/tháng so với 10,0 triệu đồng/tháng
9,0 và 10,0 triệu đồng đều đúng, vì đếm hai nhóm người khác nhau. Gặp hai con số lệch nhau, việc đầu tiên không phải chọn số nào tin, mà là xem chúng có cùng định nghĩa không.
Chỗ làm cần người và người đi tìm việc
TP.HCM dự báo cần 313.681 chỗ làm việc năm 2026, trong khi nguồn cung ước 191.790 người tìm việc. Thiếu người không có nghĩa là nghề nào cũng dễ xin — gần 40% nhu cầu đó là lao động phổ thông, còn chỗ đòi chuyên môn vẫn tuyển gắt.
Năm câu hỏi trước khi tin một con số
Dùng được cho mọi con số về nghề nghiệp mà các em gặp — trên báo, trong quảng cáo tuyển sinh, hay do người quen kể lại.
Ai công bố con số này?
Cơ quan thống kê, một bộ ngành, một trang tuyển dụng hay một trung tâm luyện thi — mỗi bên có lý do riêng khi đưa số ra.
Một trang việc làm nói ngành X đang hot: số đó đếm tin đăng trên chính trang đó, không phải đếm cả thị trường.
Của kỳ nào, công bố ngày nào?
Số lao động thay đổi theo quý. Một con số của năm 2023 không sai, nhưng dùng nó để chọn ngành cho năm 2026 thì sai.
Số trên trang này là quý II/2026, đăng ngày 3/7/2026. Hai mốc thời gian khác nhau, phải ghi cả hai.
Phạm vi nào — cả nước, một tỉnh, hay một trang web?
Nhu cầu tuyển dụng lệch nhau rất xa giữa các tỉnh. Số cả nước không nói được ở quê em có việc hay không.
Riêng TP.HCM dự báo cần 313.681 chỗ làm việc trong năm 2026. Con số đó không chia đều cho 34 tỉnh thành.
Con số này đếm ai — mẫu số là gì?
Đây là chỗ hai con số cùng đúng mà trông như mâu thuẫn. Đổi mẫu số là đổi kết luận.
Thất nghiệp 2,23% tính trên người trong độ tuổi lao động; 8,67% tính riêng thanh niên 15–24. Cùng một bản báo cáo.
Đây là việc đã xảy ra hay là dự báo?
Thống kê đếm cái đã có. Dự báo là ước tính cho tương lai, và có thể trượt.
"52,7 triệu người có việc làm" là thống kê. "Năm 2026 cần 313.681 chỗ làm việc" là dự báo.
Những số này nói gì với một học sinh lớp 12
Không có dòng nào dưới đây bảo em nên học ngành gì. Số liệu mô tả cái đang có ở mức cả nước — nó không biết em là ai.
Chặng đầu khó với hầu hết mọi người
Thất nghiệp thanh niên 8,67% so với 2,23% chung. Xin việc lần đầu chậm không phải bằng chứng em chọn sai nghề — nó là hình dạng bình thường của quãng này.
Bằng cấp là lợi thế, không phải cửa duy nhất
Chỉ 29,8% người đang đi làm có bằng cấp, chứng chỉ — nghĩa là bằng cấp giúp em đứng ở nhóm thiểu số, nhưng 70,2% còn lại vẫn đang có việc. Cả hai vế đều là sự thật, và cái vế thứ hai thường bị giấu đi.
Dịch vụ đã lớn hơn công nghiệp, công nghiệp lớn hơn nông nghiệp
40,9% — 33,9% — 25,2%. Thứ tự này khác hẳn thời bố mẹ các em đi làm, và nó vẫn đang đổi.
Số cả nước không trả lời được câu hỏi của em
Câu hỏi thật là "ở tỉnh mình, nghề này có chỗ làm không". Muốn biết thì tra trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh mình, hoặc hỏi người đang làm nghề đó ở gần nhà.
Tự đi lấy số cho tỉnh mình
Mỗi nguồn mạnh một kiểu và hụt một kiểu. Biết chỗ hụt của nguồn mình dùng là một nửa của việc phân tích.
Cục Thống kê — thông cáo lao động, việc làm theo quý
Số cả nước, phương pháp thống nhất qua các quý nên so sánh được theo thời gian.
Không cho biết ở tỉnh em nghề nào đang tuyển.
Trung tâm Dịch vụ việc làm của tỉnh, thành phố
Sát địa phương nhất: nghề nào đang cần người, mức lương doanh nghiệp trả.
Chỉ đếm việc đi qua trung tâm. Nhiều nơi tuyển thẳng, không qua đây, nên số này nhỏ hơn thực tế.
Bản tin thị trường lao động Việt Nam (Bộ Nội vụ), theo quý
Có phần nhóm nghề tuyển nhiều nhất và dự báo quý sau.
Ra chậm hơn thông cáo thống kê vài tuần.
Báo cáo tuyển dụng của các trang việc làm (TopCV, VietnamWorks, ITviec…)
Chi tiết tới từng vị trí và mức lương rao tuyển.
Là số của một trang, không phải của cả thị trường, và nghiêng về việc văn phòng ở thành phố lớn. Trích thì phải nói rõ điều đó.
Đề án tuyển sinh và báo cáo việc làm sau tốt nghiệp của trường đại học, cao đẳng
Cho biết học ngành đó ra thì bao nhiêu phần trăm có việc.
Trường tự khảo sát và tự công bố. Xem kỹ khảo sát được bao nhiêu sinh viên trên tổng số.
Hỏi thẳng người đang làm nghề — người nhà, hàng xóm, cựu học sinh, mentor
Biết được điều không bản báo cáo nào ghi: một ngày làm việc thật ra thế nào.
Là trải nghiệm của một người. Hỏi được ba người thì mới bắt đầu thấy cái chung.
Toàn bộ nguồn của trang này (8)
- Thông cáo báo chí về tình hình lao động, việc làm quý II và 6 tháng đầu năm 2026
Cục Thống kê (Bộ Tài chính) · công bố 3/7/2026 · Bản gốc của cơ quan công bố
- Báo cáo thị trường lao động 2025 và dự báo nhu cầu nhân lực 2026 của Trung tâm Dịch vụ việc làm TP.HCM, do báo Người Lao Động thuật lại
Trung tâm Dịch vụ việc làm TP.HCM · công bố 3/1/2026 · Báo chí dẫn lại — chưa mở được bản gốc
- Thông cáo báo chí về tình hình dân số, lao động, việc làm quý IV và năm 2025
Cục Thống kê (Bộ Tài chính) · công bố 6/1/2026 · Bản gốc của cơ quan công bố
- Thông cáo báo chí về tình hình lao động, việc làm quý IV và năm 2024
Cục Thống kê (Bộ Tài chính) · công bố 6/1/2025 · Bản gốc của cơ quan công bố
- Xu hướng già hóa dân số nhanh ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp — số liệu từ Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024
Cục Thống kê (Bộ Tài chính) · công bố 15/1/2025 · Bản gốc của cơ quan công bố
- Quyết định 1017/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình "Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến năm 2050"
Thủ tướng Chính phủ · công bố 21/9/2024 · Bản gốc của cơ quan công bố
- Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
Bộ Chính trị · công bố 22/12/2024 · Bản gốc của cơ quan công bố
- Bản tin thị trường lao động Việt Nam quý IV/2025, do báo An ninh Thủ đô thuật lại
Bộ Nội vụ · công bố 23/2/2026 · Báo chí dẫn lại — chưa mở được bản gốc